Danh mục chính

Văn bản-Tài liệu-Giáo án

Ảnh hoạt động

Link liên kết

Tin tức chính

Nắm vững tính năng bộ não để tìm cách dạy học sinh nắm kiến thức một cách bền vững

1/27/2015 3:06:41 PM
Trong dạy học, điều trăn trở nhất đối với người thầy là tìm cách dạy phương pháp học để học sinh nhớ lâu kiến thức và vận dụng giải quyết các vấn đề trong sự phát triển kiến thức nội bộ bộ môn cũng như các vấn đề trong thực tiển cuộc sống.

Để học sinh thuộc bài, không ít thầy cô giáo đã coi học thuộc lòng, chép lại bài nhiều lần dẫu không tối ưu nhưng nghĩ rằng làm như thế để “Tạo đường mòn trong võ não”; và kết quả chẳng như mong đợi. Ngược lại giáo viên đã làm mất quỹ thời gian học tập bộ môn khác.

Sau khi nghiên cứu tài liệu nói về tính năng bộ não, tôi nhận thấy rằng nếu chúng ta nắm được tính năng bộ não sẽ là cơ sở lý luận đề lý giải được rất nhiều vấn đề trong hoạt động dạy học và là cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy học nhất là giúp học sinh phương pháp tự học để nắm kiến thức bền vững.

1. Lý thuyết về tính năng bộ não:

Theo tài liệu (*) trong bộ não người tồn tại 3 lớp chồng đặt lên nhau biểu thị ba thời ký phát triển của nó: thời kỳ cổ nhất được gọi là võ não nguyên thủy (não bò sát) vị trí số 1, thời kỳ thứ hai là võ não cổ (động vật có vú) vị trí số 2 và thời kỳ mới nhất gọi là não người vị trí số 3 trong hình vẽ mô tả. Mỗi thời kỳ não có tính năng riêng. Trong bài viết này xin không đi sâu tính năng các thời kỳ mà tập trung vào lý giải chức năng ghi nhớ, xử lý thông tin của não bộ.

Não người phân chia thành 2 bán cầu, đó là Bán cầu đại não phải (Não phải) và bán cầu đại não trái (Não trái). Mỗi bán cầu có đặc tính rất đặc thù: Não phải là trung tâm của các dữ liệu mới và dữ liệu đã tích lũy được qua các giác quan con người vì thế dữ liệu không đồng nhất; ví dụ như bằng giác quan thị giác nó lưu giữ mọi kiểu ghế ngồi nó quan sát được, mỗi ghế một hình ảnh riêng biệt về chất liệu, hình dáng, vị trí kê đặt, ... Ngược lại Não trái là trung khu của các dữ liệu tích lũy được dưới dạng khái niệm, lời, ký hiệu và không giác quan cho nên hình ảnh ghế được Não trái lưu giữ hình ảnh, niệm về nó và nó phân biệt từng nhóm đối tượng ghế, vì thế chỉ cần nói đến tên ghế tức thì Não trái cho ta tri giác hình ảnh chiếc ghế ngay mà không cần tìm trong ký ức chiếc ghế nào đã nhìn thấy.

2. Quá trình nhận thức diễn ra tại các vùng trong bộ não:

Giai đoạn nhận thức cảm tính, các sự vật hiện tượng được phản ánh vào Não phải  qua quá trình thu thập thông tin từ các giác quan. Các hình ảnh được lưu giữ tại Não phải. Do đòi hỏi của chủ thể nhận thức cần khám phá, hiểu biết bản chất sự vật hiện tượng làm nẩy sinh nhu cầu xử lý thông tin ở vùng “Trạng thái thứ 3”. Khi vấn đề được giải quyết, nghĩa là đã tìm ra dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng thì Não trái ghi nhớ, lưu giữ, sắp xếp vào hệ thống khái niệm trước đó. Hoạt động của Não phải, vùng “Trạng thái thứ 3” và Não trái là một quá trình nhận thức từ cảm tính đến lý tính; từ trực quan sinh động (Thực tế sinh động qua giác quan đến Não phải) đến tư duy trừu tượng (diễn ra tại “Trạng thái thứ 3”); từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn (kiến thức tồn tại ở Não trái giải quyết vấn đề trong thực tiễn) để nhận thức các sự vật, hiện tượng cũng như lý giải các vấn đề trong thực tế cuộc sống.

3. Một số ví dụ minh họa trong hoạt động dạy học.

Khi chúng ta dạy “Bảy (7) hằng đẳng thức đáng nhớ”, bằng các phép tính trên đa thức đặc biệt cho ta các đẳng thức và đẳng thức đó có vai trò như các công thức giúp cho học sinh khi gặp các phép toán tương tự thì không cần thực hiện phép tính mà vẫn ghi được kết quả. Với một số học sinh không hiểu được bản chất phép biến đổi nhưng buộc phải nhớ hằng đẳng thức để “áp dụng” nên cố học với các cách nhớ máy móc như: “Bình phương của một tổng hai số bằng bình phương số thứ nhất, cộng hai lần tích số thứ nhất với số thứ hai, cộng bình phương số thứ hai”; hoặc nhơ công thức  (a + b)2 = a2 +2ab+b2. Nếu gặp các bài toán một vế có dạng  a2 +2ab+b2 học sinh sẽ có kết quả về thứ hai là (a + b)2; còn nếu một vế là a2 + b2 + 2ab chưa chắc các em đã ghi nhanh kết quả (a + b)2. Lý giải điều này là do Não phải của các đối tượng học sinh này chỉ lưu giữ hình ảnh hằng đẳng thức theo vị trí hạng tử như phát biểu trên chứ nó không biết được bản chất hình thành vế a2 +2ab+b2 .

Cũng với hằng đẳng thức đó, đối với học sinh có năng lực học tập các em nắm được bản chất hằng đẳng thức kia như là công thức hoàn thiện khi nhân hai nhị thức giống nhau (a+b) với nhau để có (a+b)2 = (a+b)(a+b) = a2+2ab+b2 hoặc (a+b)2 = (a+b)(a+b) = a2+b2+2ab = 2ab+ a2+b2 ; Thay đổi vị trí hạng tử vế phải nhưng kết quả phép nhân không thay đổi có chăng chỉ thay đổi vị trí hạng tử mà thôi. Việc giáo viên đưa ra nhiều vế phải về mặt hình thức nhưng đồng nhất về nội dung chính là để làm sáng tỏ một vấn đề, nghĩa là cung cấp dữ liệu biến thiên hình thức nhưng giữ nguyên dấu hiệu của nội dung. Chính vì học sinh này đã  thông hiểu quá trình giáo viên thực hiện các phép biến đổi, hiểu được phép biến đổi nên đã tổng hợp thành kinh nghiệm, kinh nghiệm đó được tích luỹ sang lưu giữ ở Não trái; hay nói cách khác học sinh nắm được bản chất vấn đề.

4. Vận dụng vào quá trình dạy học:

Qua quá trình chuyển hóa kiến thức trong bộ não, chúng ta thấy rằng muốn học sinh nắm chắc kiến thức đòi hỏi người giáo viên phải có quy trình tổ chức dạy học tương tác hợp lý, tôn trọng tính năng bộ não, tạo ra sự chuyển hóa thông tin thành tri thức. Muốn học sinh nắm được 1 đơn vị kiến thức trong nội dung bài dạy, chúng ta phải tổ chức học sinh tham gia các hoạt động nhận thức cảm tính, lý tính một cách hợp lý theo quy trình sau:

Kích thích các giác quan hoạt động thu thập thông tin, thông tin đó sẽ được lưu bộ nhớ Não phải; đó là quá trình giáo viên tổ chức cho học sinh tập trung quan sát, lắng nghe, thí nghiệm dưới sự điều hành của giáo viên. Giai đoạn này yêu cầu cao độ về tình thần, động cơ học tập.

Song song với hoạt động thu thập thông tin, người thầy phải tạo ra các tình huống có vấn đề, giao nhiệm vụ cho học sinh nổ lực hoạt động các thao tác tư duy. Giai đoạn này yêu cầu cao về thái độ học tập hết sức tự giác, tích cực hoạt động tư duy hay nói cách khác là kích thích hoạt động “Trạng thái thứ 3”:

Khi nhu cầu lý giải diễn ra tại “Trạng thái thứ 3” thành công, tri thức đó được lưu giữ tại Não trái. Giai đoạn này người thầy cần giúp đỡ, hướng dẫn, chuyển giao kinh nghiệm cho học sinh lưu tri thức có trật tự, theo hệ thống trong bộ nhớ Não trái.

Chính vì quá trình học tập luôn tuân thủ hoạt động nhận thức và tuân thủ tính năng bộ Não, vì vậy bên cạnh những điều phải làm, giáo viên cần nên tránh những việc làm sau:

Thứ nhất: Không nên buộc học sinh nắm kiến thức bằng cách học thuộc lòng, chép bài nhiều lần; học sinh chép bài nhiều lần nhưng không mang lại hiệu quả vì việc chép bài học sinh phấn đấu để chép đủ chứ không có mục đích chép để nhớ kiến thức; hơn nữa chép bài chỉ tăng tần số về hình ảnh chứ nó không tăng khả năng tư duy hiểu biết bản chất vấn đề. Chúng ta thường gặp nhiều học sinh khi học thì hăng hái phát biểu trong học tập, nhưng khi làm bài kiểm tra thì điểm rất thấp. Bởi vì sự phát biểu của các em đang ở mức độ nhìn thấy hiện tượng kiểu như dân gian có câu “Vào lỗ tai, ra lỗ miệng” thông tin chưa qua xử lý ở “Trạng thái thứ 3". Chừng nào sự hăng hái phát biểu sau một quá trình hoạt động tư duy thì chắc chắn các em sẽ nắm kiến thức tốt hơn.

Thứ hai: Trong tổ chức hoạt động học không nên yêu cầu các em nhớ những điều mà các em chưa hiểu; càng không như ngạn ngữ Pháp có nói “Cố gắng dạy cho học trò hiểu những điều thầy chưa hiểu”.

Thứ ba: Cần hướng dẫn học sinh sử dụng Sách giáo khoa một cách hợp lý. Có những câu hỏi giáo viên đặt ra với mục đích là học sinh khái quát, tổng hợp vấn đề sau quá trình hoạt động tư duy phân tích, mổ xẻ thì học sinh nhìn sách trả lời việc làm đó không có hiệu quả. Vì vậy mỗi bộ môn, mỗi nội dung kiến thức giáo viên cần tập cho học sinh thi quen về sử dụng SGK hợp lý.

Trên đây là kinh nghiệm bản thân trong quá trình tìm hiều và vận dụng vào giảng dạy; xin được trao đổi chia sẽ cùng đồng nghiệp.

Phạm Đăng Khoa

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TUYÊN HÓA
Địa chỉ: Thị Trấn Đồng Lê - Tuyên Hóa - Tỉnh Quảng Bình
Điện thoại: 0232.3684015. Email: pgd_tuyenhoa@quangbinh.edu.vn
© Phát triển bởi VNPT Quảng Bình